sở hữu tư nhân

sở hữu cá nhân về tư liệu sản xuất và của cải vật chất được tạo ra nhờ tư liệu sản xuất ấy. Ra đời cùng với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ; khi lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng lên, xuất hiện sản phẩm thặng dư, một số người có quyền lực trong công xã (các tù trưởng, tộc trưởng) có ý định và có điều kiện chiếm đoạt sản phẩm thặng dư làm của riêng. Quan hệ SHTN dần dần được hình thành và phát triển trên cơ sở lực lượng sản xuất, cơ sở vật chất - kĩ thuật và trình độ xã hội hoá sản xuất phát triển. SHTN phát triển đến trình độ cao nhất biến thành SHTN tư bản chủ nghĩa. Cùng với sự ra đời của SHTN, quan hệ người bóc lột người cũng được phát sinh và phát triển. Xã hội được phân chia thành các giai cấp có lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị đối kháng nhau: một bên là giai cấp bóc lột tồn tại với tư cách là giai cấp thống trị, và một bên là giai cấp bị bóc lột tồn tại với tư cách là giai cấp bị trị. Các chế độ tư hữu đã ra đời và tồn tại kế tiếp nhau trong lịch sử là chế độ tư hữu chủ nô, chế độ tư hữu địa chủ, phong kiến, chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa. SHTN đạt đến trình độ phát triển cao nhất trong chế độ tư bản chủ nghĩa. Cách mạng xã hội chủ nghĩa và cùng với đó là việc xác lập chế độ sở hữu công cộng xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất sẽ xoá bỏ dần SHTN tư bản chủ nghĩa, trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất và nền sản xuất xã hội. Do nhiều điều kiện khách quan, SHTN vẫn tồn tại trong một thời gian tương đối dài của thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

 Pháp luật Việt Nam quy định: SHTN là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. SHTN bao gồm: sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân. Tài sản thuộc SHTN là thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân. Tài sản hợp pháp thuộc SHTN không bị hạn chế về số lượng, giá trị. Cá nhân không được sở hữu đối với tài sản mà pháp luật quy định không thể thuộc SHTN. Ở Việt Nam, kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài, được Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển. Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm, trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước.


Là sở hữu của cá nhân đối với tài sản của mình. Sở hữu tư nhân gồm có sở hữu cá thể (cá nhân, hoặc cá nhân sản xuất, kinh doanh cá thể), sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân (Điều 220 - Bộ luật dân sự). Tài sản thuộc sở hữu tư nhân gồm có: thu nhập hợp pháp, tài sản để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản khác của cá nhân không bị hạn chế về số lượng (Điều 221 - Bộ luật dân sự).

Nguồn: Từ điển Luật học trang 439